gingiusuckhoe.com

Hỏi, đáp pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS

Bạn cũng nên tìm sự tham vấn về chăm sóc người nhiễm HIV tại gia trình và tranh thủ sự giúp đỡ hỗ trợ của chính quyền, nhà trường, tổ chức xã hội đối với cháu
Hỏi đáp về phòng chống HIV/AIDS…
Hỏi: Ở bệnh viện tôi có sinh viên y khoa đang thực tập bị phát hiện nhiễm HIV, với tư cách là một Giám đốc bệnh viện kiêm Phó hiệu trưởng trường đại học y tôi phải xử lý như thế nào đối với sinh viên này?
Trả lời: Hiện nay, HIV/AIDS đã lan tràn trên phạm vi cả nước (61/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Dịch không chỉ khu trú trong nhóm người có hành vi nguy cơ cao như nghiện chích ma túy hay mại dâm mà đã bắt đầu lan vào cộng đồng. Ai cũng có thể có nguy cơ bị nhiễm HIV nếu không áp dụng các biện pháp dự phòng. Vì thế, học sinh, sinh viên nói chung và sinh viên ngành y nói riêng cũng có nguy cơ bị nhiễm HIV. Trong chăm sóc và phục vụ người bệnh, HIV chỉ lây khi tiếp xúc với máu, dịch sinh học của người bị nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS. Do vậy, nếu áp dụng các biện pháp dự phòng chung như mang găng tay khi tiếp xúc với máu và dịch thì HIV không thể lây truyền được. Người nhiễm HIV chỉ phải chuyển làm công việc khác khi quá đau ốm hoặc đang làm những công việc có nguy cơ lây nhiễm HIV cho người khác. Từ những lý do trên, nên cho sinh viên trên được tiếp tục học tập bình thường tại trường và cho kiến tập lâm sàng tại bệnh viện, đồng thời làm tốt công tác tham vấn họ. Khi tốt nghiệp ra trường nên sắp xếp họ làm các công việc hành chính hoặc những công việc không có khả năng làm lây nhiễm HIV cho người khác.
Hỏi: Nếu con tôi đang đi học mà phát hiện cháu bị nhiễm HIV thì điều gì sẽ xảy ra và tôi nên làm gì?
Trả lời: Nếu thực tế điều chẳng may đó xảy ra thì bạn nên hết sức bình tĩnh để giải quyết đúng đắn tình trạng hiện tại. Trước tiên bạn cần giữ kín việc cháu bị nhiễm HIV và hướng dẫn, nhắc nhở thường xuyên cháu thực hiện các biện pháp tránh lây nhiễm sang người chung quanh. Bạn cũng cần phối hợp với nhà trường trong việc quản lý, chăm sóc giáo dục cháu. Thực tế cháu vẫn sinh hoạt, học tập bình thường với các bạn khác mà không có sự cách ly hay phân biệt đối xử nào. Mặt khác, bạn cũng nên tăng cường sức khỏe cho cháu qua việc chăm sóc cháu về ăn uống, động viên cháu rèn luyện thân thể để nâng cao sức khỏe phòng chống bệnh. Trường hợp cháu quá yếu hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội như bệnh ngoài da hoặc viêm phổi… thì cần phải đưa cháu đi bệnh viện điều trị kịp thời. Bạn cũng nên tìm sự tham vấn về chăm sóc người nhiễm HIV tại gia trình và tranh thủ sự giúp đỡ hỗ trợ của chính quyền, nhà trường, tổ chức xã hội đối với cháu. Thêm nữa, bản thân bạn và các thành viên trong gia đình cũng nên thực hiện việc xét nghiệm về HIV để có những biện pháp phòng ngừa thích hợp trong sinh hoạt cộng đồng.
Viêm gan siêu vi C – Chẩn đoán và điều trị
Từ đầu những năm 90 người ta nhận thấy rằng Viêm gan siêu vi C (VG-C) là một vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng.
Trên thế giới số người nhiễm trung bình là 2% và số người mới nhiễm là 1 – 3 ca/100.000 người/năm. Hiện tại trên toàn thế giới có 170 triệu người bị nhiễm siêu vi C (SV-C) mạn tính.
Đường lây nhiễm siêu vi C: truyền máu và các sản phẩm máu có mầm bệnh là nguyên nhân chắc chắn gây nhiễm siêu vi, còn lại là các đường lây khác như: tiêm chích ma túy, lây nhiễm trong bệnh viện và các cơ sở y tế, mẹ truyền sang con, lây nhiễm trong gia đình và đường tình dục. Ngoài ra tỷ lệ bị lây nhiễm không rõ nguồn lây hiện nay vẫn còn cao khoảng 30 – 40%.
Đặc điểm siêu vi C: được phát hiện năm 1989, là một loại virus thuộc họ Flaviviridae (Flavivirus, Pestivirus, Hepacivirus) hiện diện cả ở trong và ngoài gan. Siêu vi C có đặc tính biến dị di truyền, ở một bệnh nhân đã nhiễm siêu vi C sau 5 – 10 năm có thể xuất hiện nhiều loại virus biến dị khác nhau trong cơ thể. Ở siêu vi C có hiện diện vùng biến đổi (HVR) là vị trí kích thích tạo kháng thể vì vậy siêu vi C có khả năng trốn tránh đáp ứng miễn dịch.
Chẩn đoán viêm gan C:
- Viêm gan C cấp 80% không có triệu chứng. Các xét nghiệm gồm có HCV – RNA (+); Anti – HCV (+) (xuất hiện muộn sau 1 – 3 tháng); ALT tăng  < 10 lần bình thường.
- Viêm gan C mạn: Anti – HCV (+); ALT tăng > 6 tháng, HCV – RNA (+)
Diễn tiến tự nhiên của viêm gan C chậm: 40% người nhiễm có diễn tiến thuận lợi: < 15% tự khỏi, 25% diễn tiến rất chậm; 20% xơ gan trong 10 – 20 năm, chết do biến chứng xơ gan; 1 – 4%/năm dẫn đến ung thư gan khi có xơ gan.
Yếu tố ảnh hưởng tiến triển xơ gan: Tuổi bị nhiễm (tiến triển chậm ở người trẻ) nam bị tổn thương nặng nhiều hơn nữ, ngoài ra nghiện rượu, đồng nhiễm các loại virus khác cũng làm tăng độ nặng của bệnh.
Mục tiêu điều trị viêm gan C: chủ yếu là cải thiện diễn tiến tự nhiên của bệnh: hạn chế chuyển sang mạn tính, giảm nguy cơ gây xơ gan và ung thư gan, giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong.
Điều trị: Quyết định điều trị dựa theo mức độ tổn thương gan, tuổi lâm sàng, nồng độ siêu vi trong máu, tình trạng sức khỏe bệnh nhân…
Phác đồ điều trị tối ưu: Bệnh nhân chưa điều trị: IFN (Interferon) + Ribavirin (phối hợp). Nếu có chống chỉ định Ribavirin: IFN (3MU x 3/tuần) x 12 tháng. Thời gian điều trị tùy theo genotype và nồng độ siêu vi trong máu; Theo dõi điều trị: Sinh thiết gan để đánh giá giai đoạn xơ hóa, không cần làm thường quy khi ALT bình thường; Siêu âm và xét nghiệm AFP mỗi 6 tháng tầm soát HCC ở bệnh nhân xơ gan.
Vaccin ngừa bại liệt tiêm tăng cường hiệu quả của vaccin ngừa bại liệt uống
Các nhà nghiên cứu ở trung tâm Kiểm soát bệnh Hoa Kỳ đã làm một khảo sát trên 1000 trẻ 9 tháng tuổi tại Oman, Thổ Nhĩ Kỳ. Tất cả các trẻ này đều đã được uống 5 liều vaccin ngừa bại liệt. 
17/06/2016 , P.V - Báo Sức khỏe Thành Phố Hồ Chí Minh – Số 67 + 68 (1 – 2/2001)

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *